NGHIÊN CỨU VỀ SỰ THIẾU KHOÁNG CHẤT TRONG HỆ THỐNG THỦY CANH

NGHIÊN CỨU VỀ SỰ THIẾU KHOÁNG CHẤT TRONG HỆ THỐNG THỦY CANH

Mục đích của phần này là nghiên cứu ảnh hưởng do thiếu hụt một số chất khoáng nhất định trong cây trồng trong hệ thống thủy canh. Phương pháp được tiến hành như sau:

Chuẩn bị các bồn trồng có đường kính 20 cm cho cát sạch vào làm môi trường trổng. Tưới các dung dịch dinh dưỡng khác nhau cho hệ thống thủy canh và thấy ảnh hưởng của sự phát triển của cây cùng loại phụ thuộc vào dung dịch thiếu nguyên tố cần thiết cho sự phát triển của cây.

Với mục đích đó ngưòi ta chuẩn bị tám dung dịch chính có chứa nguyên tố đa lượng cũng như hai dung dịch chính mà một nguyên tố sắt và một nguyên tố vi lượng khác. Đa số các hóa chất được liệt kê dưới đây có thể chỉ dùng cho thí nghiệm.

Để có được những nguyên tớ chính người ta sử dụng tám dung dịch chính như trong bảng 8.6, dùng nước cất để hòa tan.

Để điểu chế dung dịch chính B có sắt trong hệ thống thủy canh, người ta hòa tan 20 g muối sắt amoni xitric trong một lít nước, Khi đã có dung dịch chính phải điều chế dung dịch dùng để trồng trọt khác nhau, mỗi dung dịch đều phải có nguyên tố cần thiết nhất định nên có thể điều chế theo bảng 8.7 ta sẽ được dung dịch theo yêu cầu.

Theo bảy dung dịch từ a đến g ( bảng 8.7), người ta trộn nguyên tố vi lượng của dung dịch A, và một nguyên tố vì lượng sắt của dung dịch B để được dung dịch dinh dưỡng cho hệ thống thủy canh dùng trong trồng trọt.

Đầu tiên người ta thêm 1 cm3 dung dịch A vào từng lít dung dịch dinh dưỡng. Sau khi cây đã mọc thì thêm dung dịch B với tỷ lệ 1 cm3A cung cấp cho cây khoảng hai lần một tuần. Mỗi dung dịch 'hòa tan axit sunfuric để có độ pH trước khi sử dụng là 6. Với dung dịch f hòa tan axit nitric để được độ pH theo yêu cầu, cũng như dung dịch có nguyên tố vi lượng trong đó có sunfat sẽ phải thay bằng clorua.

Phương pháp pha chế dung dịch

a)     Điểu chế dung dịch có độ cứng nhân tạo bằng cách hòa các chất hóa chất sau đây trong 2 lít đã được khử ion... 2,0 g NaCl; 1,0 g CaCl2; 1,0 g MgS04.7H20 gọi là dung dịch A. Tổng độ cứng là 652 mg/l (xem như tà CaC03).

b)    Để có độ kiềm ( tác động phụ) đối với dung dịch này người ta thêm 0,25 g NaHCỌ3 vào 1 / dung dịch A, gọi là dung dịch B.

c)     Bằng pH kế ta có thể đọc được độ pH của dung dịch B khoảng 8

d)    Tương tự như vậy có thể xác định được độ pH của dung dịch A vào khoảng 6.

Bây giờ thêm vài giọt 0,1 M NaOH vào cho đến khi độ pH của dung dịch A giống như độ pH của dung dịch B gọi là dung dịch C.

e)     Trong bình có dung tích 250 ml chứa dung dịch A và dung dịch c, người ta chia ra làm hai phần. Mỗi phần đó được chiết xuất với 0,025 M H2S04 cho đến khi mỗi phần đạt tới gíấ trị độ pH là 6.

Kết quả

Dung dịch B cần 10 ml axit để giảm độ pH đến 6 và dung dịch C cần ít hơn 0,5 ml. Nói cách khác, phải lấy dung dịch đệm khoảng hai mươi lần so với thể tích của axit để độ pH của nó giảm xuống được 2 đơn vị so với dung dịch không đệm.

 

 

Prev

NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ NẢY MẦM TRONG HỆ THỐNG THỦY CANH

Next

NGHIÊN CỨU VỀ SỰ THIẾU KHOÁNG CHẤT TRONG HỆ THỐNG THỦY CANH (full)